近年、インタネットやLanを利用して行う会議、いわゆる電子会議が広まって、電子会議の長所は会議に参加者が集まらなくてもいいことだが、それだけではない、一般に、普通の会議では、「周囲の目」が気になって、誰か「特に目上の人」が発言している間「うんうん」とうなずいたりして「聞いていますよ」という態度を「周囲」に示し続けることに意識が向かってしまう。
しかし、実はその間,思考のほうはストップしてしまいやすい。それに対し、電子会議の場合は、「周囲」を気に必要がなく、自分の思考を止めずにほかの人の発言が聞ける、その結果,新しいアイデアが浮かぶことが多いのである。
問い:この文章の内容として最も適当なものはどれか。
① 普通の会議より電子会議の方が、アイデアが出やすい。
② 普通の会議より電子会議の方が、周囲が気になる。
③ 電子会議はふぉ通の会議と違って、わざわざ会場に行かなくてもよい。
④ 電子会議は普通の会議より、考える時間が短い。
Toi: Kono bunshō no naiyō to shite mottomo tekitōna mono wa dore ka. ① Futsū no kaigi yori denshi kaigi no kata ga, aidea ga de yasui. ② Futsū no kaigi yori denshi kaigi no kata ga, shūi ga ki ni naru. ③ Denshi kaigi wa fu ~o-tsū no kaigi to chiga~tsu te, wazawaza kaijō ni ikanakute mo yoi. ④ Denshi kaigi wa futsū no kaigi yori, kangaeru jikan ga mijikai.
Trong những năm gần đây, các cuộc họp được ổ chức bằng cách sử dụng Lan hoặc Internet, gọi là hội nghị điện tử đang lan rộng. Ưu điểm của hội nghị điện tử là dù người tham gia không đến tập trung cũng được, không chỉ vậy, nói chung, tại các cuộc họp thông thường, người ta thường "để ý đến con mắt của xung quanh" , một người nào đó, đặc biệt là cấp trêni, trong lúc phát biểu, thì mọi người có ý thức hướng về chuyện tiếp tục biểu thị với xung quanh thái độ như là
gật đầu, "dạ, dạ", tôi đang nghe đây. Tuy nhiên, thật sự thì, trong lúc đó, tư tưởng bị dừng lại. Đối với điều này, nếu là cuộc họp qua mạng thi việc chú ý đến xung quanh là không cần thiết, nghe nhận xét của người khác mà không cần dừng suy nghĩ của mình, và kết quả là, nhiều ý tưởng mới.nảy sinh .
答え:1
Saturday, 27 October 2012
Friday, 19 October 2012
和語と漢語: NHẬT NGỮ VÀ HÁN NGỮ
前のコラムで『和語」と「漢語」と言う言葉を紹介しました。言い換える類義ではこの二つに関する問題がたくさん出題されます。たとえば、『風呂屋」と「銭湯」です。
いまでは家に風呂があるのが当たり前になってきて、「銭湯」は少なくなりました。
Imade wa ie ni furo ga aru no ga atarimae ni natte kite,`sentō' wa sukunaku narimashita.
Đến nay, chuyện có bồn tắm trong nhà đã là chuyện đương nhiên, "sentou"/ nhà tắm công cộng đã ít đi.
さて、次の言葉は和語です。漢語では、なんと言いますか。考えてみてください。
Sate,-ji no kotoba wa wagodesu. Kangode wa, nanto iimasu ka. Kangaete mite kudasai.
Và, những từ sau là "Hòa ngữ"/tiếng Nhật bản địa. Bằng Hán Nhật thì nói thế nào, chúng ta hãy thử nghĩ nhé.
- Mae no koramu de “wago' to `kango' to iu kotoba o shōkai shimashita. Iikaeru ruigi de wa kono futatsu ni kansuru mondai ga takusan shutsudai sa remasu. Tatoeba,“Furoya' to `sentō'desu.
Tôi đã giới thiệu từ "Han ngu" và "Hoa ngu" (từ tiếng Nhật bản địa) trong bài trước. Vấn đề có liên quan với hai chuyện này ở góc độ nghĩa có thể thay cho nhau thì có rất nhiều câu hỏi.. Ví dụ, “Furoya' và `sentō' - "nhà tắm" & "nhà tắm công cộng".
日本では30年くらい前には、家に風呂がない人たくさんいました。それで、風呂屋がどの町にも何軒もありました。これは和語です。風呂屋といっても風呂を売っているのではありません。
Nihonde wa 30-nen kurai mae ni wa,-ka ni furo ga nai hito takusan imashita. Sore de, Furoya ga dono machi ni mo nan-ken mo arimashita. Kore wa wagodesu. Furoya to itte mo furo o utte iru node wa arimasen.
- 30 năm trước, có nhiều người ở Nhật Bản không có bồn tắm trong nhà. Vì vậy,
Furoya' /nhà tắm có nhieu trong bất cứ thị trấn nào. Đây là từ tiếng Nhật bản địa. Dẫu là nói "nhà tắm" nhưng không phải là bán bồn tắm.
風呂屋のことを、漢語では「銭湯」といいます。「金を払って入る湯」で「銭」の「湯」です。
Furoya no koto o, kangode wa `sentō' to īmasu. `Kin o haratte hairu yu' de `Sen' no `yu'desu.
Bằng hán tự, nói đến chuyện " Furoya' nhà tắm" thì là "sentou". Nghĩa là nước nóng của tiền, là việc trả tiền để cho nước nóng vào.
お湯を売っているのではありません。「ぜに」は和語です。お札ではなく、硬貨のことです。
Oyu o utte iru node wa arimasen. `Ze ni' wa wagodesu. Osatsude wa naku, kōka no kotodesu.
Không phải là bán nước nóng. [ze ni] là tiếng Nhật. Không phải là tiền giấy mà là đồng xu.
「銭湯」を「ぜにゆ」とよむとXです。
`Sentō' o `ze ni yu' to yomu to Xdesu.
いまでは家に風呂があるのが当たり前になってきて、「銭湯」は少なくなりました。
Imade wa ie ni furo ga aru no ga atarimae ni natte kite,`sentō' wa sukunaku narimashita.
Đến nay, chuyện có bồn tắm trong nhà đã là chuyện đương nhiên, "sentou"/ nhà tắm công cộng đã ít đi.
さて、次の言葉は和語です。漢語では、なんと言いますか。考えてみてください。
Sate,-ji no kotoba wa wagodesu. Kangode wa, nanto iimasu ka. Kangaete mite kudasai.
Và, những từ sau là "Hòa ngữ"/tiếng Nhật bản địa. Bằng Hán Nhật thì nói thế nào, chúng ta hãy thử nghĩ nhé.
- 湯のみ Yunomi
- 腰掛 Koshikake
- 望み Nozomi
- 当たり前 Atarimae
- ちょっと Chotto
和語と外来語: NHẬT NGỮ & TỪ NGOẠI LAI
さくらは「桜」と書きます。訓読みは「さくら」、音読みは「オウ」です。
Sakura wa `sakura' to kakimasu. Kun'yomi wa `sakura', on'yomi wa `Ō 'desu.
Hoa anh đào được viết là "anh"「桜」. Âm Nhật là "sakura", âm Hán Nhat là "Ou".
さくらは日本の国花『国の花」ですが、ヒマラヤ周辺から東アジア全体に広がった植物で、昔の日本にも山に自然に生えていたと考えられています。では、梅や菊のように、桜も外来語でしょうか。違います。さくらは「咲く」と言う動詞に、複雑の意味の「ら」が加わって「さくら」になったと言われています。ほかにも桜の言葉の由来はいろいろありますが、どれも、もともと日本にあった言葉です。
Sakura wa Nihon no kokka “kuni no hana'desuga, Himaraya shūhen kara Higashiajia zentai ni hirogatta shokubutsu de, mukashi no Nihon ni mo yama ni shizen ni haete ita to kangae rarete imasu. Dewa, ume ya kiku no yō ni, sakura mo gairai-godeshou ka. Chigaimasu. Sakura wa `saku' to iu dōshi ni, fukuzatsu no imi no `ra' ga kuwawatte `sakura' ni natta to iwa rete imasu. Hoka ni mo sakura no kotoba no yurai wa iroiro arimasuga, dore mo, motomoto Nihon ni atta kotobadesu.
Hoa anh đào là quốc hoa của Nhật Bản nhưng là loại thực vật từ vùng xung quanh dãy Himalaya đã lan rộng khắp Đông Nam Á, và cũng được cho là đã mọc tự nhiên ngay cả ở vùng núi Nhật Bản xưa. Thế thì, cũng như mai và cúc, từ "sakura" ( 桜 ) có lẽ cũng là từ ngoại lai? Xin thưa rằng không phải. Người ta nói rằng sakura là động từ "nở"(saku)「咲く」, thêm từ "ra" với ý nghĩa của phức tạp/nhieu đã trở thành "Sakura".Ngoài ra, nguồn gốc của từ "sakura" có rất nhiều nhưng dù thế nào thì vẫn là từ có nguồn gốc từ Nhật.
ですから、桜は外来語ではありません。草花の名前はカタカナで書くという決まりがあるので、「サクラ」と書きますが、「さくら」と書いてもかまいません。
Desukara, sakura wa gairai-gode wa arimasen. Kusabana no namae wa katakana de kaku to iu kimari ga aru node,`sakura' to kakimasuga,`sakura' to kaite mo kamaimasen.
Vì thế, "sakura" không phải là từ ngoại lai. Tên hoa cỏ vì có quy định viết bằng chữ katakana nên viết là 「サクラ」 nhưng nếu viết 「さくら」 thì cũng chẳng sao.
もともと日本にあった言葉を「和語」と言います。中国から漢字と一緒に伝わった言葉は「漢語」と言います。外来語と言ってもいろいろです。
Motomoto Nihon ni atta kotoba o `wago' to iimasu. Chūgoku kara kanji to issho ni tsutawatta kotoba wa `kango' to iimasu. Gairai-go to itte mo iroirodesu.
"Hòa ngữ" là những từ xuất xứ từ Nhật, Những từ nhập từ Trung Quốc cùng với Hán tự gọi là "Hán ngữ". Từ gọi là "từ ngoại lai" thì nhiều loại.
さて、問題です。次の外来語は何語がもとになっているでしょうか。
Sate, mondaidesu. Tsugi no gairai-go wa nanigo ga moto ni natte irudeshou ka.
Vâng, đó là một vấn đề. Những từ ngoại lai sau được dựa trên tiếng gì nhỉ?
- カフェ Cafe
- アルバイト Arubaito
- てんぶら Ten bura
- イクラ Ikura
- 『サケの卵」 “sake no tamago'
- 珈琲〔コーヒー Kōhī 〔kōhī)
音読みと訓読み: ÂM HÁN & ÂM NHẬT
「梅」は、日本にもともとあった花ではなく、ずっと昔に中国から伝わったものです。「毎」は今の日本語では音読みで「まい」は「ばい」ですが、中国から伝わった時期音が違います。
`Ume' wa, Nihon ni motomoto atta hanade wa naku, zutto mukashi ni Chūgoku kara tsutawatta monodesu. `Mai' wa ima no nihongode wa on'yomi de `mai' wa `bai'desuga, Chūgoku kara tsutawatta jiki oto ga chigaimasu.
"Mai" không phải là loài hoa vốn có ở Nhật mà nhap từ Trung Quốc vào từ thời xưa. 「毎」 thì trong tiếng Nhật hiện nay, đọc âm ôn là "mai" hay" bai"nhưng âm mà từ nhập từ T.Q vào thì khác.
「め」は梅の木が日本に伝わったころの音で、ここから今の「め」という言葉ができたといわれています。また、実を葉にする「島梅(ムエイ)」という種類の梅が「ウメ」聞こえたからだという説もあります。
`Me' wa ume no ki ga Nihon ni tsutawatta koro no oto de, koko kara ima no `me' to iu kotoba ga dekita to iwa rete imasu. Mata, mi o ha ni suru `shima ume (muei)' to iu shurui no ume ga `ume' kikoetakarada to iu setsu mo arimasu.
"Me' được cho là âm lúc cây mai nhập vào Nhật, và được cho có thể từ "me" của bây giờ là từ chỗ này. Lại nữa, cũng có thuyết là vì nghe"Ume là.các loại mận cho quả mận đảo (Muei)
昔の日本では、花といえば ウメ。 ウメはいいにおいがします。今のように花見といえば、桜というようになったのは江戸時代(1613-1868)になってからだそうです。
Mukashi no Nihonde wa, hana to ieba ume. Ume wa ī nioi ga shimasu. Ima no yō ni hanami to ieba, sakura to iu yō ni natta no wa Edo jidai (1613 - 1868) ni natte karada sōdesu.
Nhật Bản thời xưa thì nếu nói đến hoa thì là "mai". Hoa mai có mùi thơm. Còn nói đến đi ngắm hoa như hiện nay là nghĩ đến hoa anh đào thì có khả năng chỉ sau thời kỳ Edo (1613-1868).
一方、にほんで、秋に咲く代表的な花といえばきくですね。菊と書きます。これも中国から伝わった花です。梅と菊も日本の文化と深く結びついていますが、どちらも「外来語」なんです。でもなぜか、梅は訓読み、きくは音読みとなっています。音読みか訓読みかは日本人でも辞書を引いて確認しないと分からないことがあります。
Ippō, ni hon de, aki ni saku daihyōtekina hana to ieba kikudesu ne. Kiku to kakimasu. Kore mo Chūgoku kara tsutawatta hanadesu. Ume to kiku mo nihon'nobunka to fukaku musubitsuite imasuga, dochira mo `gairai-go'na ndesu. Demo naze ka, ume wa kun'yomi, kiku wa on'yomi to natte imasu. On'yomi ka kun'yomi ka wa nihonjin demo jisho o hiite kakunin shinai to wakaranai koto ga arimasu.
Mặt khác, ở Nhật Bản, neu noi về một loài hoa biểu tượng nở vào mùa thu thi là hoa cúc nhi. Hoa này cũng được nhập từ Trung Quốc. Hoa cúc và hoa mai đối với nền văn hóa của Nhật Bản có một sự gắn kết sâu sắc nhưng cả hai đều là "từ ngoại lai". Nhưng chẳng hiểu sao Mai là âm Nhật mà Cúc là âm Hán. Âm Nhật hay âm Hán thì ngay cả với người Nhật nếu không tra từ điển để xác nhận thì cũng có lúc không biết.
漢字の読みと意味:Ý nghĩa và cách đọc chữ Hán
新年を迎えると日本では春の始まりです。新年を『新春』『初春」と言います。
Shin'nen o mukaeru to Nihonde wa haru no hajimaridesu. Shin'nen o “shinshun” “hatsuharu' to iimasu.
Ở Nhật Bản, hễ chào đón năm mới là bắt đầu mùa xuân. Năm mới nói là "Tân Xuân" hay "Sơ Xuân"
1,2月の日本は、春は一番寒いときですが、『春」と書くことで、春はもうすぐそこまで来ていると思うのです。このころ南から咲き始める花があります。『ウメ」です。
1, 2 Tsuki no Nihon wa, haru wa ichiban samui tokidesuga,“haru' to kaku koto de, haru wa mōsugu soko made kite iru to omou nodesu. Kono koro minami kara saki hajimeru hana ga arimasu. “Ume'desu.
Mùa xuân Nhật Bản vào tháng 1 và tháng hai là lúc lạnh nhất. Viết "Mùa Xuân" thì nghĩa là mùa xuân chẳng mấy chốc sẽ đến. Lúc này từ miền Nam có hoa bắt đầu nở. Đó là "hoa mai"
ウメは一月半ばから四月にかけて日本全国で咲きます。色はピンク、赤、黄色などいろいろあります。花びらはふつうは5枚ですが、たくさんある種類もあります。
Ume wa ichigatsu nakaba kara 4gatsu ni kakete nippon zenkoku de sakimasu. Iro wa pinku, aka, kiiro nado iroiro arimasu. Hanabira wa futsū wa 5-maidesuga, takusan aru shurui mo arimasu.
Từ giữa tháng giêng đến tháng Tư, hoa mai nở khắp nước Nhật. Có đủ màu: hồng, đỏ, vàng, v.v...Hoa thường có 5 cánh nhưng cũng có nhiều loại khác nhau.
ウメは漢字で「梅」と書きます。「梅」と言う字は木でへん木であることを示し、「毎」が音と意味を示しています。『毎』にはよく見えると『母」が隠れています。実がたくさんなるので、「子をたくさん産む母のような木」と言う意味になります。
Ume wa kanji de `ume' to kakimasu. `Ume' to iu ji wa ki de hen kide aru koto o shimeshi,`-goto' ga oto to imi o shime shite imasu. “Mai” ni wa yoku mieru to “haha' ga kakurete imasu. Mi ga takusan narunode,`-ko o takusan umu haha no yōna ki' to iu imi ni narimasu.
Hoa Mai được viết bằng chữ 「梅」. Chữ 「梅」 thì có bộ mộc ở bên trái biểu thị "cây", chữ "mỗi" 「毎」 biểu thị nghĩa và âm. Ở trong chữ 「毎」 , hễ nhìn kỹ thì thấy đang ẩn chữ "mẹ" 母. Vì có nhiều quả nên có ý nghĩa là "cây như một bà mẹ sinh nhiều con".
子孫が増えると言うのはいいことですから、梅は「おめでたい」木とされています。咲く時間がそのころだと言うだけでなく,新年を祝うのにふさわしい木だと言うことでよく年賀状に描かれています。
Shison ga fueru to iu no wa ī kotodesukara, ume wa `omedetai' ki to sa rete imasu. Saku jikan ga sono koroda to iu dakedenaku, shin'nen o iwau no ni fusawashī kida to iu kotode yoku nengajō ni egaka rete imasu.
Số con cháu mà tăng lên thì là điều tốt nên cây mai được xem là cây "hạnh phúc." Không chỉ trong thời gian nở hoa, Mai là loại cây thích hợp được vẽ vào thiệp để chúc mừng Năm mới.
Shin'nen o mukaeru to Nihonde wa haru no hajimaridesu. Shin'nen o “shinshun” “hatsuharu' to iimasu.
Ở Nhật Bản, hễ chào đón năm mới là bắt đầu mùa xuân. Năm mới nói là "Tân Xuân" hay "Sơ Xuân"
1,2月の日本は、春は一番寒いときですが、『春」と書くことで、春はもうすぐそこまで来ていると思うのです。このころ南から咲き始める花があります。『ウメ」です。
1, 2 Tsuki no Nihon wa, haru wa ichiban samui tokidesuga,“haru' to kaku koto de, haru wa mōsugu soko made kite iru to omou nodesu. Kono koro minami kara saki hajimeru hana ga arimasu. “Ume'desu.
Mùa xuân Nhật Bản vào tháng 1 và tháng hai là lúc lạnh nhất. Viết "Mùa Xuân" thì nghĩa là mùa xuân chẳng mấy chốc sẽ đến. Lúc này từ miền Nam có hoa bắt đầu nở. Đó là "hoa mai"
ウメは一月半ばから四月にかけて日本全国で咲きます。色はピンク、赤、黄色などいろいろあります。花びらはふつうは5枚ですが、たくさんある種類もあります。
Ume wa ichigatsu nakaba kara 4gatsu ni kakete nippon zenkoku de sakimasu. Iro wa pinku, aka, kiiro nado iroiro arimasu. Hanabira wa futsū wa 5-maidesuga, takusan aru shurui mo arimasu.
Từ giữa tháng giêng đến tháng Tư, hoa mai nở khắp nước Nhật. Có đủ màu: hồng, đỏ, vàng, v.v...Hoa thường có 5 cánh nhưng cũng có nhiều loại khác nhau.
ウメは漢字で「梅」と書きます。「梅」と言う字は木でへん木であることを示し、「毎」が音と意味を示しています。『毎』にはよく見えると『母」が隠れています。実がたくさんなるので、「子をたくさん産む母のような木」と言う意味になります。
Ume wa kanji de `ume' to kakimasu. `Ume' to iu ji wa ki de hen kide aru koto o shimeshi,`-goto' ga oto to imi o shime shite imasu. “Mai” ni wa yoku mieru to “haha' ga kakurete imasu. Mi ga takusan narunode,`-ko o takusan umu haha no yōna ki' to iu imi ni narimasu.
Hoa Mai được viết bằng chữ 「梅」. Chữ 「梅」 thì có bộ mộc ở bên trái biểu thị "cây", chữ "mỗi" 「毎」 biểu thị nghĩa và âm. Ở trong chữ 「毎」 , hễ nhìn kỹ thì thấy đang ẩn chữ "mẹ" 母. Vì có nhiều quả nên có ý nghĩa là "cây như một bà mẹ sinh nhiều con".
子孫が増えると言うのはいいことですから、梅は「おめでたい」木とされています。咲く時間がそのころだと言うだけでなく,新年を祝うのにふさわしい木だと言うことでよく年賀状に描かれています。
Shison ga fueru to iu no wa ī kotodesukara, ume wa `omedetai' ki to sa rete imasu. Saku jikan ga sono koroda to iu dakedenaku, shin'nen o iwau no ni fusawashī kida to iu kotode yoku nengajō ni egaka rete imasu.
Số con cháu mà tăng lên thì là điều tốt nên cây mai được xem là cây "hạnh phúc." Không chỉ trong thời gian nở hoa, Mai là loại cây thích hợp được vẽ vào thiệp để chúc mừng Năm mới.
Subscribe to:
Comments (Atom)


